16 thg 1, 2018

Third Sunday in Ordinary Time - Year B (January 21, 2018)



First Reading (Jon 3:1-5, 10)

A reading from the Book of the Prophet Jonah

The word of the LORD came to Jonah, saying:
“Set out for the great city of Nineveh,
and announce to it the message that I will tell you.”
So Jonah made ready and went to Nineveh,
according to the LORD’S bidding.
Now Nineveh was an enormously large city;
it took three days to go through it.
Jonah began his journey through the city,
and had gone but a single day’s walk announcing,
“Forty days more and Nineveh shall be destroyed, “
when the people of Nineveh believed God;
they proclaimed a fast
and all of them, great and small, put on sackcloth.
When God saw by their actions how they turned from their evil way,
he repented of the evil that he had threatened to do to them;
he did not carry it out.


Bài đọc I (Gn 3:1-5, 10)

1 Có lời ĐỨC CHÚA phán với ông Giô-na lần thứ hai rằng:2 "Hãy đứng dậy, đi đến Ni-ni-vê, thành phố lớn, và hô cho dân thành biết lời tuyên cáo Ta sẽ truyền cho ngươi."
3 Ông Giô-na đứng dậy và đi Ni-ni-vê, như lời ĐỨC CHÚA phán. Ni-ni-vê là một thành phố cực kỳ rộng lớn, đi ngang qua phải mất ba ngày đường.
4 Ông Giô-na bắt đầu vào thành, đi một ngày đường và công bố: "Còn bốn mươi ngày nữa, Ni-ni-vê sẽ bị phá đổ."
5 Dân Ni-ni-vê tin vào Thiên Chúa, họ công bố lệnh ăn chay và mặc áo vải thô, từ người lớn đến trẻ nhỏ.
10 Thiên Chúa thấy việc họ làm, thấy họ bỏ đường gian ác mà trở lại, Người hối tiếc về tai hoạ Người đã tuyên bố sẽ giáng trên họ, Người đã không giáng xuống nữa.

Responsorial Psalm (Ps 25:4-5, 6-7, 8-9)

R/ Teach me your ways, O Lord.
R/ Lạy Chúa, xin dạy con lối bước của Ngài.



Your ways, O LORD, make known to me; teach me your paths, Guide me in your truth and teach me, for you are God my savior. R/
Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết, lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con. Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài và bảo ban dạy dỗ, chính Ngài là Thiên Chúa cứu độ con. R/

Remember that your compassion, O LORD, and your love are from of old. In your kindness remember me, because of your goodness, O LORD. R/
Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời. Lạy Chúa, vì Ngài nhân ái, xin lấy tình thương mà nhớ đến con cùng. R/

Good and upright is the LORD; thus he shows sinners the way. He guides the humble to justice and teaches the humble his way. R/
Chúa là Đấng nhân từ chính trực, chỉ lối cho tội nhân. Dẫn kẻ nghèo hèn đi theo đường công chính và dạy cho biết đường lối của Người. R/

How to Pray the Rosary


Catholic Online

Một bài viết HAY ..... Bàn luận ngắn gọn đến sự liên quan giữa Cha Mẹ & Con Cái qua chữ NỢ ơn sinh thành dưỡng dục.

Nợ công

Bùi Bích Hà

Tôi nhận được điện thư của người bạn quý, cảm nhận qua nét vui tươi
trong những con chữ chị đánh xuống bàn phím, sự hứng khởi khi chuyển
cho tôi nội dung của một bài viết kèm theo trích từ Facebook Giao
Thanh Pham mà xem ra chị rất đắc ý. “Này, cho một đề tài để chia sẻ
đây!”

Quả nhiên nhận xét của chị không sai. Đề tài của bài viết luận về công
ơn cha mẹ, một vấn đề dù nói ra hay không, đã, đang và có lẽ còn làm
bận lòng nhiều thế hệ con dân Việt Nam trong nước hay hải ngoại trong
tiến trình hội nhập vào xã hội Hoa Kỳ, phải ứng xử với những mâu thuẫn
văn hóa khác biệt.

Đại ý bài viết nêu ra vài quan điểm chống lại món nợ công, giữa ông
bà, cha mẹ và cháu con, chuyền vai từ thế hệ này sang thế hệ kia trong
các gia đình như một hủ tục cần chấm dứt. Lý lẽ để biện minh cho lập
luận này như sau:

-Những đứa trẻ vì thời cuộc, sống không có cha mẹ thân thuộc bảo bọc
từ tuổi niên thiếu, khi lớn lên vẫn có sự nghiệp bề thế.

-Tác giả đã nghiên cứu “nhiều sách vở giáo khoa ở Mỹ, chẳng bao giờ
tìm được những câu răn dạy về ‘Công Ơn Cha Mẹ’ hoặc việc phải đền đáp,
trả nghĩa cho ‘Công Đức Sinh Thành,’ lại càng không thể tìm ra được
những gì nói đến ‘Bổn Phận Phải Trả Hiếu’ của con cái sau này khi cha
mẹ về già. Người Mỹ hay nói chung, người Tây phương không có cái ‘Đạo
Lý Thánh Hiền’ nhập cảng từ Tàu ấy.”

–Con cái sinh ra là do ý định của cha mẹ hoặc trong vài phút nông nổi
của người lớn, không có chúng dự phần. Có con vì “tai nạn.” Có con cho
vui cửa vui nhà, cho ông bà bế ẵm, để cầm chân người phối ngẫu, để làm
tròn vẹn cái hình ảnh mái ấm gia đình có tiếng khóc cười trẻ thơ…
Tuyệt nhiên không bao giờ cha mẹ sinh con vì chúng nó muốn được góp
mặt với đời…

Vẫn theo bài viết, vậy mà trong các sách giáo khoa, các nền giáo dục
trong quá khứ ở mọi thời đại, người ta luôn kể về công ơn của cha mẹ,
mang nặng đẻ đau, sớm hôm tảo tần, vất vả nuôi con cái, nêu những sự
kiện đó ra như những món nợ vay trả, trả vay giữa cha mẹ và con cái,
truyền tử lưu tôn từ đời này sang đời khác.

-Đối với cha mẹ Mỹ, nuôi dạy con cái là bổn phận, trách nhiệm phải chu
toàn. Đối với cha mẹ Việt Nam, đó là ân đức do cha mẹ ban phát, con
cái phải đáp đền; là món nợ công đã có từ khi chúng chưa mở mắt chào
đời.

-Cha mẹ Mỹ coi việc con cái giúp đỡ trong tuổi già là quà tặng. Cha mẹ
Việt Nam coi đó là nợ, bắt buộc phải hoàn trả.

-Cha mẹ Mỹ chuẩn bị hành trang cho con cái vào đời ở lứa tuổi 18-20
rồi đẩy chúng ra riêng, sống tự lập, cha mẹ được rảnh tay lo cho tương
lai tuổi già của mình. Cha mẹ Việt Nam ấp ủ con cái, tuổi 30-35 vẫn
còn rụt rè chưa dám đối mặt với xã hội. Đợi đến khi chúng vào đời rồi,
cha mẹ đã lụm khụm, không còn thời gian để lo cho tương lai về già của
bản thân nữa.

Bài viết kết luận: Thế là cái vòng lẩn quẩn của món nợ sinh thành ấy
cứ được trao qua vai hết đời này sang đời khác, cứ tiếp tục làm khổ
lẫn nhau khi nhu cầu đòi hỏi giữa đôi bên không được đáp ứng như mong
đợi. Ở Mỹ, hai đứa trẻ sau khi ra đời chỉ phải lo lắng cho tương lai
của gia đình chúng. Ở Việt Nam, hai đứa trẻ ấy còn phải cõng thêm
tương lai của cha mẹ. Muốn chấm dứt cảnh này, cha mẹ Việt Nam cần
thoát khỏi lối tư duy cổ hủ, không còn thích hợp như nói trên.

Phải công nhận các dữ kiện bài viết đưa ra đều chính xác, phản ảnh một
thực tế khó chối cãi, dựa trên nền văn hóa “Trẻ cậy cha, già cậy con”
lâu đời của người Việt Nam trước đây vài ba thập niên ở quê nhà.

Tôi chỉ băn khoăn không hiểu cách nhìn mối liên hệ giữa cha mẹ và con
cái như món nợ công theo quan điểm của tác giả bài viết. Trong thực tế
và ngay cả trong môi trường ở hải ngoại ngày nay, liệu có bao nhiêu
phần trăm được sự đồng thuận của cộng đồng người Việt ở cả hai phương
vị cha mẹ và con cái?

Vắn tắt thôi, ai cũng biết con người sống ở đời kể từ lúc lọt lòng mẹ
là bắt đầu ngay những món nợ chằng chịt với người xung quanh, với đồng
loại, bởi vì giản dị là con người không thể sống một mình và hữu dụng
một mình. Đó là món nợ lớn nhất, đã làm người thì không ai thoát được,
thế hệ này sang thế hệ khác, trước khi trở thành “chủ nợ” hay đang là
“chủ nợ,” ai cũng từng là con nợ và nợ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay.
Có những đứa con cảm kích tấm lòng trời biển của cha mẹ, còn cười đùa
bảo nhau: “Cha mẹ đi rồi vẫn chưa trả hết nợ con cái vì chúng con gặp
khó khăn, còn thắp nhang xin cha mẹ phù hộ.”

Sách vở giáo khoa hay nhà trường Mỹ không dạy trẻ về công đức sinh
thành của cha mẹ, bổn phận phải trả hiếu của con cái khi khôn lớn;
người Mỹ hay nói chung, người Tây phương không có cái đạo lý thánh
hiền nhập cảng từ Tàu. Bởi vì ở đất nước văn minh, mỗi cá nhân từ bé
đã sinh ra trong tự do và được tôn trọng, giáo dục không tẩy não hay
nhồi sọ trẻ mà hướng dẫn, đào tạo trẻ thành những con người có đầu óc,
có trái tim, có nhận thức và suy xét riêng, có khả năng làm những chọn
lựa phù hợp với phẩm cách của mình.

Ngay trong mỗi gia đình, cha mẹ không tự coi mình là chủ nợ đối với
con cái nhưng làm gương cho con về tình thương yêu, lòng khoan dung,
bác ái, tinh thần trách nhiệm, ý thức tương trợ; nuôi dưỡng, tưới tẩm
trong con trái tim mẫn cảm, biết thưởng thức cái đẹp và sống đẹp. Một
xã hội tiến bộ đề cao nhân phẩm khuyến khích con người phát huy các
giá trị nội tại thay ví dùng thần thánh làm ông ngoáo ộp để dọa dẫm
hay hứa hẹn vu vơ.

Cha mẹ Mỹ với kinh nghiệm bản thân, biết rõ hơn ai hết con cái là
những nhánh sông, con sẽ có ngày đổ ra biển lớn, đầu tư vào con cái là
đầu tư không hoàn vốn nhưng không vì thế mà buộc chặt túi tiền. Họ đầu
tư khôn ngoan và có kế hoạch để xã hội phát triển mà không ai lỗ lã,
rất khác với cha mẹ Việt Nam cả đời sống theo câu châm ngôn “nước mắt
chảy xuôi,” có khi chảy đến cạn dòng và tiếp tục khóc bằng đôi mắt khô
không lệ.

Cha mẹ không đòi nợ thì con cái không phải lo trả nợ nhưng khả năng
của trái tim yêu thương thì vô hạn. Một đứa con bị người đời gọi là
bất hiếu, vô đạo, không phải vì nó không có đồng lớn đồng bé cho cha
mẹ, vì nó không nuôi nổi cha mẹ bằng sơn hào hải vị hay lụa là nhung
gấm mà vì nó vô cảm trước tuổi già sức yếu, những vụng về yếu ớt,
những khao khát một lời nói, một ánh mắt, một nụ cười, một chút ân cần
để sưởi ấm buổi chiều mùa Đông sắp tắt của cha mẹ.

Cảm xúc từ trái tim không phải mua bằng tiền mà một đứa con nào đó vẫn
không có được để làm quà cho cha mẹ thì thật tội nghiệp bởi vì nó khốn
khổ hơn cả một người khốn khổ bình thường nhưng có một trái tim biết
buồn vui và san sẻ. Tình cha mẹ nếu không cao cả, thâm sâu và diễm lệ
hơn một món nợ thì đã không có những đứa con thất lạc gia đình, thậm
chí bị bỏ rơi trong một hoàn cảnh nào đấy, cả cuộc đời còn lại miệt
mài đi tìm những người sinh thành ra chúng để không bị dày vò bởi mặc
cảm không có một gốc gác vào đời như mọi ai trên mặt đất này.

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể, con nuôi
cha mẹ kể tháng kể ngày.” Cha mẹ sẽ không buồn vì con cái không thể
trả nợ mà sẽ rất buồn vì cuộc sống bận rộn quay cuồng với cơm áo của
một Hoa Kỳ thực dụng đã lấy đi năm ba phút thư giãn cần thiết cho tâm
hồn con cái họ, để chúng không còn cái hạnh phúc thưởng thức hương
thơm của hoa hồng mà thiên nhiên ban tặng hậu hĩ cho nhân loại và làm
đẹp Địa Cầu. (Bùi Bích Hà)

15 thg 1, 2018

Daily Readings – Audio (January 15-21, 2018)

Daily Bible Reading 15 January 2018 of Catholic Mass



Daily Bible Reading 16 January 2018 of Catholic Mass


Daily Bible Reading 17 January 2018 of Catholic Mass

14 thg 1, 2018

Homily for the Second Sunday In Ordinary Time,Year B (Jan 14, 2018)


They Went And Saw Where He Was Staying, And They Stayed With Him That Day
(Jn 1:39)

Dear Sisters and Brothers in Christ,

This Sunday Gospel story reports to us how the first disciples responded to the call by Jesus Christ, our Lord and Savior, in a spontaneous and determined way by joining Him in preaching the Good News of God’s salvation project.

Jesus was looking for some friends willing not only to work with Him but also to share with Him a new way of life dedicated to serving God and humanity.

His is not any plan established for social, economic, political or whatsoever purpose.  His is that of building God’s Kingdom where all people live in love, peace and lasting happiness.

For that aim to be achieved, one has to detach themselves from all forms of dependence on material needs.  That was the reason why when asked by the disciples about His home or living conditions, Jesus frankly told them just to go and see with their own eyes the reality that, as He said, “Foxes have dens, and birds of the sky have nests, but the Son of Man has nowhere to rest his head.”[1]        

Later in their missionary activities, the disciples would understand more profoundly and completely what Jesus their Master meant by “the Son of Man has nowhere to rest his head.”  That would be the most crucial requirement among others for an authentic Christian missionary sent to the building of God’s Reign without any human support except for divine love and care:

Do not take gold or silver or copper for your belts; no sack for the journey, or a second tunic, or sandals, or walking stick.[2] 

Being completely detached from material needs, from economic and political backing, clearly signifies that you are totally free to preach the Word of God, to tell the saving truth of Jesus Christ without any bias, without any fear, and without any discrimination.

The first disciples who were called by Jesus carefully approached Him, scrupulously studied His Way of Life and finally found what they had eagerly been looking for, as admitted that Andrew the elder brother of Saint Peter: “We have found the Messiah—or the Christ.”[3] 
     
Indeed, our service and worship of God should not by any means be a trade of interest after a well-known principle by business-minded people: “Do ut des—I give you something so that you will give me something back.”  Some of Jesus’ disciples once failed to fight that mentality of trade-orientedness when frankly—and shamelessly—asked Him:

We have given up everything and followed you.  What there will be for us?[4]   
Instead, our service and worship of God should surely be an expression of our profound gratitude to God the Father Who so loved us that He gave us His only Son, Jesus Christ as the ever best blessing thanks to Whom we were forgiven our sins and worthy of being His adopted children and heirs to His Kingdom.  

That trade of interest mentality has also affected us Christians—no matters who we are: the laity, the clergy and the consecrated—so seriously that it can be traced as the background for all that we think, speak and do: “We have given up everything and followed you.  What there  will be for us?”

So sad to say that at the end of our life what we expect to receive for our years of  faithfully serving the Lord God turns to be something else but God Himself.

So sad to see that what we will ask the Lord God for one day for our service of Him is just something of very low price such as a boarding pass into heaven, totally unaware of the truth that paradise without God’s presence would be meaningless and useless.

A story about Saint Thomas Aquinas, doctor of the Church, could tell us something wise enough.  One day, the saint was praying in front of the crucifix when Jesus appeared to him and told him to just ask for a reward whatsoever for his good service of Him.  Without a second thought, Saint Thomas answered the Lord: “Good Lord, I want nothing else but You.”

Yes, when we have Jesus, we have not just heaven, but the Maker of heaven Himself.      




[1] Mt 8:20.
[2] See Mt 10:9-10.
[3] Jn 1:41.
[4] Mt 19:27.
Fr. Francis Xavier Nguyen Van Nhut, O.P.

CHƯƠNG TRÌNH DÃ NGOẠI-HÀNH HƯƠNG ĐỨC MẸ LA VANG - HUẾ (27/4/2018-1/5/2018)


12 thg 1, 2018

II Sunday in Ordinary Time Year B (January 14, 2018)


A.     Introduction

a)      To the Holy Mass

Dear Sisters and Brothers in Christ,
Good morning!
Welcome to Saint Dominic’s Parish Church for the Sunday Holy Mass celebration. 
This Sunday is the Second in the Ordinary Time, Cycle B of the liturgical year 2018
After Christmas comes the first set of around 6 Sundays in the Ordinary Time before the Lenten Season.
During the Ordinary Time, the Church continues with thanksgiving, praise and worship the joyful celebration of the Paschal Mystery, the glorious rising to life of Christ, our Lord and Savior.  In other words, Easter Sunday is repeated again and again when Christians gather in unity by faith and the Holy Spirit to take part in the Supper of the Lord until He comes one day in glory.
We pray in this Holy Mass for gift of unity in Christ which pulls down the wall of division and separation among Christians of all denominations.
Please all stand for the entrance hymn.
 
b)     To the Readings

-          First Reading: 1 Sam 3:3b-10.19

The Lord God called the boy Samuel and entrusted him a mission: that of serving Him and His people.  With willingness and humility Samuel reacted positively to God’s will and became from that day on His faithful and devoted servant.

-          Second Reading: 1 Cor 6:13c-15a.17-20

Through the power of the Sacrament of Baptism, Christians become the Lord God’s holy temple where they offer their lives filled with prayers and sacrifices pleasing to God.

B. Hymns for Holy Mass

      a) Sing to The Mountains ES #136
      b) Responsorial Psalm: page 61
      c) The God of All Grace ES #291
      d) Here I Am, Lord ES #200
      e) Age to Age ES #273

Hymns for the Second Sunday of Ordinary Time – Year B (January 14, 2018)


a) Entrance: Sing to The Mountains - ES #136



b) Responsorial Psalm: EM Page 61 (DM 565/432)

Responsorial Psalm (Ps 40:2, 4, 7-8, 8-9, 10)

R/ Here am I, Lord; I come to do your will.
R/ Lạy Chúa, này con xin đến thực thi thánh ý Ngài.

I have waited, waited for the LORD, and he stooped toward me and heard my cry. And he put a new song into my mouth, a hymn to our - God. R/
Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa, Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu. Chúa cho miệng tôi hát bài ca mới, bài ca tụng Thiên Chúa chúng ta. R/

Sacrifice or offering you wished not, but ears open to obedience you gave me. Holocausts or sin-offerings you sought not; then said I, “Behold I - come.” R/
Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con; lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi, con liền thưa: “Này con xin đến!” R/

“In the written scroll it is prescribed for me, to do your will, O my God, is my delight, and your law is within my - heart!” R/
Trong sách có lời chép về con rằng: con thích làm theo thánh ý, và ấp ủ luật Chúa trong lòng, lạy Thiên Chúa của con.” R/

I announced your justice in the vast assembly; I did not restrain my lips, as you, O LORD,- know. R/
Đức công chính của Ngài, con loan truyền giữa lòng đại hội; lạy Chúa, Ngài từng biết: con đâu có ngậm miệng làm thinh. R/


c) Offertory: The God of All Grace - ES #291



d) Communion: Here I Am, Lord - ES #200



e)  Recessional: Age to Age - ES #273 


7 thg 1, 2018

Second Sunday of Ordinary Time – Year B (January 14, 2018)



First Reading (1 Sm 3:3B-10, 19)

A reading from the first Book of Samuel

Samuel was sleeping in the temple of the LORD
where the ark of God was.
The LORD called to Samuel, who answered, “Here I am.”
Samuel ran to Eli and said, “Here I am. You called me.”
“I did not call you, “ Eli said. “Go back to sleep.”
So he went back to sleep.
Again the LORD called Samuel, who rose and went to Eli.
“Here I am, “ he said. “You called me.”
But Eli answered, “I did not call you, my son. Go back to sleep.” 
At that time Samuel was not familiar with the LORD,
because the LORD had not revealed anything to him as yet.
The LORD called Samuel again, for the third time.
Getting up and going to Eli, he said, “Here I am. You called me.”
Then Eli understood that the LORD was calling the youth.
So he said to Samuel, “Go to sleep, and if you are called, reply,
Speak, LORD, for your servant is listening.”
When Samuel went to sleep in his place,
the LORD came and revealed his presence,
calling out as before, “Samuel, Samuel!”
Samuel answered, “Speak, for your servant is listening.” 
Samuel grew up, and the LORD was with him,
not permitting any word of his to be without effect.

Bài đọc I (1 Sm 3:3B-10, 19)

3 Đèn của Thiên Chúa chưa tắt và Sa-mu-en đang ngủ trong đền thờ ĐỨC CHÚA, nơi có đặt Hòm Bia Thiên Chúa. 4 ĐỨC CHÚA gọi Sa-mu-en. Cậu thưa: "Dạ, con đây! "5 Rồi chạy lại với ông Ê-li và thưa: "Dạ, con đây, thầy gọi con." Ông bảo: "Thầy không gọi con đâu. Con về ngủ đi." Cậu bèn đi ngủ.6 ĐỨC CHÚA lại gọi Sa-mu-en lần nữa. Sa-mu-en dậy, đến với ông Ê-li và thưa: "Dạ, con đây, thầy gọi con." Ông bảo: "Thầy không gọi con đâu, con ạ. Con về ngủ đi."7 Bấy giờ Sa-mu-en chưa biết ĐỨC CHÚA, và lời ĐỨC CHÚA chưa được mặc khải cho cậu.8 ĐỨC CHÚA lại gọi Sa-mu-en lần thứ ba. Cậu dậy, đến với ông Ê-li và thưa: "Dạ, con đây, thầy gọi con." Bấy giờ ông Ê-li hiểu là ĐỨC CHÚA gọi cậu bé.
9 Ông Ê-li nói với Sa-mu-en: "Con về ngủ đi, và hễ có ai gọi con thì con thưa: "Lạy ĐỨC CHÚA, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe." Sa-mu-en về ngủ ở chỗ của mình.
10 ĐỨC CHÚA đến, đứng đó và gọi như những lần trước: "Sa-mu-en! Sa-mu-en! " Sa-mu-en thưa: "Xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe."
19 Samuen lớn lên. Đức Chúa ở với ông và Người không để cho một lời nào của Người ra vô hiệu.

Responsorial Psalm (Ps 40:2, 4, 7-8, 8-9, 10)

R/ Here am I, Lord; I come to do your will.
R/ Lạy Chúa, này con xin đến thực thi thánh ý Ngài.



I have waited, waited for the LORD, and he stooped toward me and heard my cry. And he put a new song into my mouth, a hymn to our God. R/
Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa, Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu. Chúa cho miệng tôi hát bài ca mới, bài ca tụng Thiên Chúa chúng ta. R/

Sacrifice or offering you wished not, but ears open to obedience you gave me. Holocausts or sin-offerings you sought not; then said I, “Behold I come.” R/
Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con; lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi, con liền thưa: “Này con xin đến!” R/

“In the written scroll it is prescribed for me, to do your will, O my God, is my delight, and your law is within my heart!” R/
Trong sách có lời chép về con rằng: con thích làm theo thánh ý, và ấp ủ luật Chúa trong lòng, lạy Thiên Chúa của con.” R/

I announced your justice in the vast assembly; I did not restrain my lips, as you, O LORD, know. R/
Đức công chính của Ngài, con loan truyền giữa lòng đại hội; lạy Chúa, Ngài từng biết: con đâu có ngậm miệng làm thinh. R/

Daily Readings – Audio (January 8-14, 2018)

Daily Bible Reading 08 January 2018 of Catholic Mass



Daily Bible Reading 09 January 2018 of Catholic Mass


Daily Bible Reading 10 January 2018 of Catholic Mass